Tôi muốn viết một bài về chủ đề này cũng khá lâu rồi, nhưng vì chưa đủ hứng thú cho nên đến hôm nay mới đặt tay lên phím mà viết ra một số suy nghĩ chủ quan của bản thân.
Nhớ lại nhiều năm trước, khi tôi đang trong độ tuổi hai mươi còn hăng hái và ngây thơ, lúc đó hai chữ khởi nghiệp hay startup còn mới mẻ với nhiều người trẻ tuổi ở Việt Nam vì chưa có nhiều báo đài đề cập tới, tôi hình dung trong đầu mình “khởi nghiệp” (startup) ngầm chứa trong nó là sự tự do, được thoải mái sáng tạo xây dựng sản phẩm, hiện thực hóa ý tưởng của riêng mình. Một chân trời và tương lai tươi sáng sẽ hiện ra trong tâm trí khi mình hoàn thành được sản phẩm mong muốn. Đó là viễn cảnh mà bất cứ người trẻ tuổi nào cũng sẽ cảm nhận được khi nghĩ về cụm từ khởi nghiệp hay startup.
Dần dần hai chữ đó xuất hiện ngày càng nhiều trên mặt báo, tivi và trở thành những phong trào, nhãn mác nghe rất ngầu, biểu tượng của thành công và khác biệt mặc dù thực tế không phải vậy. Đúng là chiếc áo không bao giờ làm nên thầy tu. Ban đầu từ thích thú với ý tưởng khởi nghiệp, tôi bắt đầu cảm thấy chán khi đâu đâu cũng nghe khởi nghiệp, ý tưởng triệu đô, thiên thần thổi nến, tài năng đọc lệnh, v.v... Nếu ai đã từng nghe các công ty đa cấp rao giảng về hệ thống của họ, thì tôi cũng bắt đầu có cảm giác tương tự khi nghe những thứ liên quan đến startup, đến khởi nghiệp, những mô hình và cỗ máy đẻ ra tiền. Trong đầu tôi không còn thấy hình ảnh của tự do khi nghe đến startup hay khởi nghiệp nữa, mà tôi chỉ thấy sự tham lam được khuếch đại. Ý nghĩa ban đầu về việc được tự do xây dựng một sản phẩm hay dịch vụ chất lượng cao và giá cả phù hợp cho đại bộ phận dân chúng mà tôi hình dung trước kia dần dần nhạt phai.
Năm tháng trôi qua, các chuyên gia khởi nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều, sách dạy khởi nghiệp, game show khởi nghiệp, v.v... Rất nhiều bí kíp, phương pháp để gọi vốn vòng A, B, C, v.v... bất kỳ đội nhóm khởi nghiệp nào cũng thấm nhuần phương pháp gọi vốn với những mô hình thống trị thị trường, đốt tiền đầu tư để xây dựng một nền tảng lớn nhằm thâu tóm toàn bộ thị trường và khách hàng. Điều đó có nghĩa là về cơ bản họ muốn hướng đến sự độc quyền. Không nhiều người hiểu được rằng, ban đầu có vẻ như những người dùng hay khách hàng của họ được lợi nhờ chính sách đốt tiền thâu tóm thị trường nhưng khi mô hình của họ thành công thì chính những khách hàng đó sẽ không còn quyền được lựa chọn những dịch vụ hay sản phẩm với mức giá tốt vì lúc này trên thị trường không còn công ty nào đủ sức mạnh cạnh tranh với họ nữa và khách hàng phải chấp nhận bất cứ mức giá nào mà họ đưa ra nếu muốn sử dụng sản phẩm hay dịch vụ đó. Đó chính là thời điểm mà sự tự do của người tiêu dùng bị tước đoạt. Đó là nói về khách hàng sử dụng sản phẩm, dịch vụ.
Còn về những người khởi nghiệp thì sao, bản thân họ cũng sẽ không còn nhiều sự tự do khi bất cứ hướng đi nào mà họ lựa chọn đều phải ưu tiên thỏa mãn lợi ích của đám đông nhà đầu tư, những người đã hỗ trợ cho họ tiền vốn để thực hiện kế hoạch khởi nghiệp năm năm hay bảy năm. Có một điều khá buồn cười và có vẻ bản thân tôi hơi ngu khi phải mất một thời gian tôi mới nhận ra “tiền đầu tư” và “tiền vay mượn” về bản chất là hoàn toàn giống nhau. Nó chỉ khác là người cho bạn vay tiền là ai và mức độ hỗ trợ hay can thiệp của họ vào những quyết định đối với doanh nghiệp mà bạn đang xây dựng. Sự tự do của bạn sẽ bị tước đoạt khi bạn đồng ý cầm và sử dụng số tiền đó, bạn sẽ không còn được bay bổng với những ý tưởng của mình nữa, áp lực kiếm lời đè nặng lên trí óc của bạn mỗi ngày vì bạn phải tạo ra lợi nhuận để hoàn vốn và một số dư đủ lớn cho bản thân và trả lãi cho những người đã cho bạn vay tiền.
Thay đổi thế giới, bạn chắc chắn đã nghe cụm từ này rất nhiều khi tiếp cận với thế giới startup, khởi nghiệp. Ý nghĩ đó giống một kiểu thôi miên ám thị mà nhiều hãng báo chí từ Bussiness Insider cho tới Forbes, v.v... lặp đi lặp lại nhiều lần khi nói về bất kỳ một công ty công nghệ khởi nghiệp thành công trong việc huy động triệu triệu đô tiền đầu tư. Những cụm từ hoa mỹ như kỳ lân công nghệ, tỷ phú tự thân, từ hai bàn tay trắng mà xây được cả cơ ngơi to lớn khi tuổi đời chỉ vừa mười tám đôi mươi xuất hiện nhiều lần bên cạnh những viễn cảnh to lớn mà họ có thể mang lại cho nhân loại.
Tất cả những thứ đó dội vào đầu bất cứ ai ngây thơ và hoài bão những ảo tưởng viễn vông. Có thể nói góp phần tạo nên sự hoang tưởng và những ước mơ giàu nhanh đổi đời, giải cứu thế giới chính là nhờ sự đóng góp to lớn của hệ thống truyền thông và mạng xã hội. Bạn được nghe nhiều mẫu chuyện thành công, có thể thật có thể giả, nhưng tất cả chỉ là con số cực kỳ nhỏ bé khi so với hàng trăm, hàng triệu người thất bại trong kinh doanh phải phá sản, đôi khi phải tự treo cổ hay nhảy lầu vì không đủ khả năng trả khoản nợ đã vay để đầu tư vào công ty hay doanh nghiệp của họ.
Những công ty lớn trên thế giới như Google, Facebook, khi bắt đầu thực ra chẳng có mục tiêu nào to lớn vĩ đại như giải cứu thế giới hay cứu rỗi nhân loại. Họ đơn giản chỉ là theo đuổi một giải pháp nào đó để giải quyết vấn đề cá nhân hay nhu cầu nào đó của một nhóm người trong xã hội. Những nhãn mác như người hùng công nghệ này nọ toàn bộ là hư danh do cánh truyền thông báo chí dựng lên, và chính bản thân những công ty đó cũng thuê người viết lên câu chuyện thần kỳ về chính mình để đánh bóng tên tuổi công ty, bán các ấn phẩm, tăng giá trị kỳ vọng cho cổ phiếu của họ khi niêm yết trên sàn chứng khoán. Những người sáng lập của mỗi công ty đều bắt đầu xây dựng doanh nghiệp của mình như một người hùng trẻ tuổi chống lại các công ty tập đoàn lớn xấu xa trên thị trường để mang lại công bằng, lợi ích cho người dùng.
Quy tắc ban đầu của Google là “Don’t be Evil” (không xấu xa) khi nó bắt đầu từ con số không, thời gian trôi qua cùng với sự bành trướng về quy mô của mình, Google đã tự phá vỡ quy tắc đó. Facebook từng là một nơi để kết nối mọi người, một nơi để bất cứ ai cũng có thể tự do nói lên ý kiến của mình nhưng khi nó trở thành nền tảng mạng xã hội lớn nhất thế giới thì nó lại dùng chính sức mạnh công nghệ của mình để bịt miệng tất cả những ai nói những điều mà Facebook không thích, hàng triệu thông tin của người dùng bị rò rỉ và bán cho các công ty phân tích dữ liệu và quảng cáo kích thích tiêu dùng. Những người sáng lập khi xưa với những hoài bão và động cơ trong sáng dần trở nên xấu xa vì họ cũng đủ thông minh khi nhận thấy được số tiền khổng lồ mà họ sẽ có trong tay nếu hợp tác và đáp ứng các yêu cầu của những quỹ đầu tư xảo quyệt.
Nhìn vào hai ví dụ trên chúng ta sẽ phải tự hỏi mình rằng liệu các công ty khởi nghiệp công nghệ hay startup có thực sự là người hùng như chúng ta vẫn tin là như vậy? Những vấn đề mà các công ty này đưa ra có thực sự là vấn đề hay không? Cách mà các giải pháp của họ đưa ra có giải quyết triệt để vấn đề đó hay không? Đây là những câu hỏi hiện lên trong đầu tôi khi ngồi trên giảng đường trường đại học ở Iowa. Tôi cũng nhớ lại các buổi bootcamp tại Saigon về khởi nghiệp được một giáo sư ở Hardvard truyền lại, trong đó có việc xác định vấn đề cần phải giải quyết của một nhóm khởi nghiệp theo phương pháp Lean Startup (khởi nghiệp tinh gọn). Sau khi suy nghĩ kỹ càng và nhiều năm trải nghiệm, tôi nhận ra rằng các vấn đề trong xã hội là do chính chúng ta tạo ra, các nhóm khởi nghiệp trẻ tuổi luôn bị ám ảnh phải giải cứu thế giới, giải quyết vấn đề xã hội để làm giàu trong khi họ không đủ sâu sắc để nhận ra cách họ suy nghĩ và mục tiêu họ đặt ra mới chính là vấn đề. Những điều họ muốn làm vượt quá sức lực của mình trong khi họ còn chưa hiểu và giải quyết được các vấn đề của bản thân thì làm sao giải quyết những vấn đề lớn hơn. Người Việt chúng ta có câu “ốc chưa mang nổi mình ốc, ốc còn làm cọc cho rêu”, đó chính xác là miêu tả về những trường hợp này.
Trong phần lớn các ý tưởng khởi nghiệp, hầu hết các vấn đề mà họ muốn giải quyết là những giả định do những người sáng lập tự đặt ra, và nếu đúng phương pháp và quy trình thì họ sẽ phải làm khảo sát xem những giả định của mình có chính xác hay không và mức độ chính xác là bao nhiêu? Nếu chúng ta nói vấn đề cần giải quyết là của loài người vậy thì chúng ta phải khảo sát bảy tỷ dân trên hành tinh thì mới xác định được nó đúng là vấn đề chung của nhân loại, khi đó mục tiêu trở thành anh hùng cứu thế mới đúng đắn. Còn nếu vấn đề giả định thuộc về dân chúng của một quốc gia thì ít nhất bạn phải khảo sát và điều tra toàn bộ ý kiến của vùng lãnh thổ đó để xác định tính đúng đắn cho giả định mà bạn đặt ra. Đáng tiếc phần lớn đội nhóm hay cá nhân khởi nghiệp không đủ nguồn lực để làm những công việc khảo sát này, nên hầu hết vấn đề và giải pháp họ đưa ra phần lớn đều hoang đường, đương nhiên có một số nhỏ may mắn chính xác nhưng nếu đem so với phần còn lại chỉ như muối bỏ bể. Đáng sợ hơn nữa là rất nhiều người không nhận ra điều này, và lại có một niềm tin to lớn và quyết tâm mãnh liệt hy sinh tất cả để thành công, và trong khi họ nỗ lực giải quyết những vấn đề không có thật đó họ lại tạo ra nhiều vấn đề mới hơn cho xã hội. Kết hợp với lòng tham vô bờ của những nhà đầu tư mạo hiểm, thổi phồng mức độ thiên tài của các doanh nhân khởi nghiệp và công nghệ lại càng gây ra thêm nhiều lãng phí về nhân lực, tiền của và thời gian cho xã hội.
Nếu bạn đã từng đọc qua trường hợp của WeWork hay đình đám gần đây là Theranos bạn sẽ hiểu tôi đang nói về điều gì. Hai trường hợp này rất nổi tiếng hay tai tiếng, có rất nhiều thông tin không thể viết hết ở đây. Một ví dụ khác là các công ty startup công nghệ trong lĩnh vực chuyên chở như Uber, Lyft, Grab, Gojerk, v.v... sứ mạng họ đặt ra có vẻ khác nhau nhưng thực tế ai cũng thấy họ giống như một công ty taxi kết hợp với một nền tảng công nghệ hỗ trợ cho việc đặt xe và thanh toán trực tuyến nhanh gọn. Ban đầu các tài xế được hưởng lợi khi tham gia vì chính sách hoa hồng tốt, nhưng khi số lượng tài xế tăng lên thì những thứ họ nhận được lại sụt giảm. Ngoài ra vì không phải là nhân viên chính thức của công ty nên họ không được nhận những chế độ khác như bảo hiểm hay phải tự lo trang trải chi phí liên quan đến phương tiện, v.v... Vào lúc cơn sốt taxi công nghệ bùng nổ, nhiều người còn vay mượn số tiền lớn để mua xe ô tô chạy Grab, Uber, v.v... Đường xá lúc nào cũng bị kẹt cứng vì số lượng ô tô gia tăng đột biến, ô nhiễm tiếng ồn, bụi trong không khí. Khi cơn đại dịch virus Vũ Hán xảy ra, tài xế thất nghiệp, nợ nần chồng chất vì trót mượn tiền mua xe mà không có khả năng chi trả.
Bạn có thấy sự mâu thuẫn ở đây không? Những hãng công nghệ này, họ tạo ra một giải pháp hay mô hình kinh doanh khởi nghiệp mới và đồng thời cũng tạo ra hàng loạt vấn đề mới về môi trường và an sinh xã hội. Bởi vì không mấy ai khi bắt đầu khởi nghiệp đều nghĩ kỹ về trách nhiệm của mình đối với xã hội, họ đơn giản chỉ hướng đến lợi ích ngắn hạn là lợi nhuận để đáp ứng kỳ vọng của bản thân và nhà đầu tư, nên giải pháp và mô hình họ đưa ra đơn giản chỉ là thay thế vấn đề cũ bằng một hoặc nhiều vấn đề mới và nghiêm trọng hơn. Cho nên nhiều khi không làm gì lại là một cách giải quyết vấn đề tốt hơn vì nó không tạo ra vấn đề mới nào. Đôi khi làm một người bình thường lại không gây ra hậu quả hay thiệt hại lớn cho xã hội bằng việc trở thành một người hùng.
Tôi chưa bao giờ thích khái niệm “tự do tài chính”, những thứ to tát như vậy về cơ bản là không phù hợp với tôi. Của cải vật chất về cơ bản cũng giống như xiềng xích gông cùm. Một câu nói của người xưa là “tri túc thường lạc”, biết đủ đầy là hạnh phúc, khi ta cảm thấy đủ rồi ta sẽ thấy vui, ví dụ như ăn cơm thấy vừa đủ no thì dừng lại, đừng vì đồ ăn ngon mà cố ăn nhiều hơn để rồi sau đó là hại cái bao tử và sức khỏe của mình. Hoặc ví dụ như ta đã có đủ quần áo để mặc, ta cảm thấy đã đủ rồi thì sẽ không còn phải mệt mỏi chạy đua mua sắm theo các xu hướng thời trang mà vòng đời của các sản phẩm đó ngày càng ngắn lại, nếu ta không biết cảm thấy đủ, ta lại cứ phải cố gắng làm việc mệt mỏi kiếm thêm tiền để mua những món đồ mà có khi chỉ sử dụng có một lần trong đời. Chúng ta lãng phí quá nhiều sức lực và thời gian của bản thân để theo đuổi những giá trị không lâu bền như vậy ta sẽ không bao giờ cảm thấy cuộc sống của mình là đầy đủ.
Chúng ta cũng cần ngừng so sánh cái đủ của mình với cái đủ của người khác, đừng lấy cái đủ của người khác làm tiêu chuẩn cho cái đủ của mình và cũng đừng áp đặt tiêu chuẩn đủ của mình cho người khác. Tự bản thân mỗi người phải xác định được điều gì là cần thiết cho cuộc đời của mình để có điểm dừng. Đó phải là một cái gì đó cụ thể giúp ích cho cuộc sống ngắn hạn của đời người. Hãy tự mình trả lời, tìm ra con số cụ thể để trả lời cho câu hỏi bao nhiêu là đủ?
Nếu mục tiêu của bạn là kiếm tiền để trang trải cuộc sống, để xây nhà, để nuôi con cái ăn học, bạn phải xác định số tiền cụ thể, và thời gian thực tế bạn phải tiêu tốn để lao động để có được số tiền đó nó có đáng hay không, hay có một phương án nào khác thay thế hay không? Chúng ta không nên lấy thành tựu của người khác ra để làm tiêu chuẩn cho chính mình vì năng lực mỗi người khác nhau. Nếu bạn cố gắng quá sức điều đó sẽ làm hại đến sức khỏe của chính bản thân bạn, sức khỏe và thời gian là vốn quý giá nhất mà bạn có, đánh mất nó bạn sẽ không thể hoàn thành mục tiêu tài chính mà bạn đã đặt ra. Cho nên chúng ta cần phải chọn mục tiêu cụ thể phù hợp với năng lực của chính mình. Và khi ta cảm thấy bản thân đã đạt được mục tiêu đề ra, nghĩa là ta đã cảm thấy đủ rồi thì hãy dừng lại suy nghĩ tiếp về chặng đường tiếp theo, không phải lúc nào chúng ta cũng cứ tiến mãi lên được mà cũng cần có những chặng dừng nghỉ.
Nếu mục tiêu là kiến thức, ta cũng cần xác định kiến thức ta cần hay thích thú muốn tìm hiểu là gì? Đừng cố gắng học hay nhồi nhét những kiến thức dư thừa vừa lãng phí thời gian, công sức chỉ để hơn thua với người khác. Lúc nào dung nạp thêm được thì học, lúc nào không tiếp thu được thì dừng, nghỉ ngơi và lại tiếp tục chọn lựa những thứ cần thiết. Bởi vì kiến thức nhân loại là vô bờ bến, không ai có thể học hết được tất cả mọi thứ trong vòng đời ngắn ngủi của mình, cho nên cũng không cần cảm thấy buồn hay ganh tỵ với người khác vì có nhiều điều họ biết mà bạn không biết, mà hãy nhớ lại rằng bạn cũng biết nhiều điều mà họ không biết.
Quay lại với “tự do tài chính”, bản chất của chúng ta là muốn được giải phóng khỏi việc lao động vất vả để kiếm sống và đạt được trạng thái tự do không còn phải suy nghĩ đến việc tháng này lãnh bao nhiêu tiền lương để trả tiền thuê nhà, tiền nợ, rồi các món tiền khác phải trang trải cho cuộc sống. Nói một cách sâu xa là nó hướng đến tự do giải thoát. Ai cũng nghĩ rằng đạt tự do tài chính thì sẽ đạt tới tự do cá nhân. Tuy nhiên hai cái đó nó hoàn toàn trái ngược nhau, có nhiều người rất giàu có thể nói là không phải lo nghĩ gì về vấn đề nơi ăn chốn ở, có được cái mà chúng ta hay gọi là tự do tài chính, nhưng họ vẫn không được tự do về tư tưởng hay giải thoát, trong lòng thường hay cảm thấy khó chịu không thể ngồi yên để hưởng sự ung dung tự tại của mình. Tự do tài chính không phải là một bước đệm để tiến tới tự do cá nhân bởi vì chúng khác nhau về mặt bản chất. Để đạt tự do cá nhân bạn đơn giản chỉ cần buông bỏ mọi thứ ràng buộc vật chất và các yếu tố bên ngoài, từ đó trong tâm thức bạn sẽ được giải phóng.
Khái niệm "tự do tài chính" là một cái bẫy, để đạt được điều đó bạn phải suy nghĩ nhiều cách tinh vi, thu gom vơ vét ngày càng nhiều của cải vật chất trong thiên hạ về nhà mình, vừa đạt cột mốc này bạn sẽ tự tạo cho mình một cột mốc khác, cứ thế không dừng, đi theo con đường đó lòng tham của bạn sẽ lớn mãi không ngừng. Vì động cơ của nó là lòng tham, nên bạn sẽ không bao giờ đạt được giải phóng khỏi các ràng buộc về vật chất nếu bạn không chọn một cột mốc cụ thể và cam kết dừng lại khi đã đến nơi. "Tự do tài chính" nó giống như là đường đua của lòng tham, ban đầu bạn cố gắng bắt kịp người khác, sau đó là cố gắng vượt xa người khác. Cứ hơn thua mãi như vậy sẽ không bao giờ đủ, lúc nào cũng cảm thấy thiếu thốn vì không bằng ai hoặc sợ ai đó sẽ vượt mặt mình.
Con người tự do, là con người có thể sống với ước mơ của mình mà vượt thoát khỏi nhiều ràng buộc mà xã hội đã vô tình hay cố ý áp đặt lên cá nhân người đó, người đó có thể đạt được tự do lâu dài hoặc trong khoảnh khắc ngắn ngủi. Nếu đã từng trải qua cảm giác tự do đó, bạn sẽ mong một ngày nào nó quay lại với mình.
Nếu ước mơ của bạn là vẽ tranh, thì hãy vẽ đi, bạn có nhiều phương tiện để làm điều đó, đâu nhất thiết phải có tiền mua giấy, bút, mực, màu mới có thể vẽ. Nếu bạn yêu thích vẽ, bạn có thể dùng cái que vẽ lên mặt đất, bạn có thể dùng nhiều thứ khác xung quanh để vẽ. Nếu bạn thích chế tạo sản phẩm nào đó thì hãy chế tạo nó, nếu vốn liếng bạn không nhiều để mua vật liệu cao cấp, thì bạn vẫn có thể tìm ra các vật liệu khác rẻ tiền để thay thế, nó có thể không đẹp, không hào nhoáng, nhưng miễn là bạn đã chế tạo được sản phẩm phục vụ công việc gì đó thì bạn cũng đã hoàn thành được ước mơ của mình.
Suy nghĩ kỹ lại “tự do tài chính” không phải là phương tiện giúp bạn đạt ước mơ, mà nó có thể là cạm bẫy, một cái bánh vẽ kéo bạn ra xa khỏi mơ ước của mình. Vì nó không có điểm dừng và không có lối thoát.
24 tháng 2, 2020
Hai ba năm trước tôi có nghe về blockchain, chủ yếu liên quan đến bitcoin, một số người giàu lên sau một đêm nhờ giá bitcoin tăng lên và cũng có người treo cổ khi giá bitcoin giảm xuống. Thời gian trôi qua, nhiều loại tiền ảo khác cũng ra đời. Các loại tiền ảo đều sử dụng công nghệ blockchain. Tôi cũng không quan tâm lắm. Rồi hàng loạt các ý tưởng startup xuất hiện, ai cũng mang từ blockchain gắn vào dịch vụ, sản phẩm của mình để nghe có vẻ thời thượng gây ấn tượng với nhà đầu tư hy vọng gọi được vốn triệu đô, tỷ đô. Cảm giác như chỉ cần có người bỏ vô triệu đô, tỷ đô là mình đã đổi đời trong đêm. Đâu đâu cũng nghe blockchain, tiền ảo, cách mạng 4.0 và biến đổi khí hậu (climate change), bụi mịn 2.5 PM. Nghe nhiều vậy chứ cũng không rõ blockchain là gì, nên viết bài này như một nghiên cứu nhỏ cho bản thân để hiểu rõ hơn những thuật ngữ màu mè do con người lạm dụng để lòe bịp lẫn nhau.
Blockchain là gì? Thay vì định nghĩa nó thì tôi sẽ tìm hiểu vấn đề mà blockchain giải quyết là gì. Bây giờ lấy một ví dụ: hai thằng bạn thân chơi với nhau, một thằng ở Việt Nam tên A một thằng ở Mỹ tên B. A hết tiền, hỏi mượn tiền bạn B. B gọi điện thoại tới ngân hàng, yêu cầu trích tiền trong tài khoản của của mình gửi cho bạn ở Việt Nam. Ngân hàng sẽ kiểm tra tài khoản của B có đủ để trích tiền hay không, và vì B là tỷ phú Mỹ, nên số tiền A mượn không thành vấn đề. Ngân hàng xác nhận việc chuyển tiền này dưới dạng một dòng ghi chú bằng dữ liệu máy tính hay trong sổ sách (gọi la entry). Sau đó A gọi điện báo cho B biết tiền đã được chuyển, B có thể tới ngân hàng và nhận số tiền mà A vừa chuyển. Như vậy chuyện gì đã thực sự diễn ra? Cả A và B đều tin tưởng việc ngân hàng quản lý tiền của mình. Trong thực tế không có sự di chuyển vật lý của bất cứ loại tiền giấy nào diễn ra trong quá trình chuyển tiền này. Một dòng ghi chú dữ liệu (entry) là tất cả những gì mà quá trình chuyển tiền này cần. Một điều quan trọng là cả A và B đều không sở hữu hay có quyền kiểm soát entry, và đó chính là vấn đề của hệ thống hiện tại.
Để thiết lập sự tin tưởng giữa hai bên, ta lại cần một cá nhân thứ ba làm trung gian.
Trong nhiều năm, chúng ta đã phụ thuộc vào một bên thứ ba để tin tưởng lẫn nhau. Bạn có thể sẽ tự nhủ: "Phụ thuộc vào họ thì có vấn đề gì chứ?" Vấn đề chính là bên thứ ba cũng chỉ là một phần thiểu số của xã hội. Và khi một cá nhân hay tổ chức tham nhũng hay sụp đổ một cách cố ý hay vô tình, việc đó sẽ gây ra hỗn loạn trong xã hội. Ví dụ: nếu các ghi chú về chuyển khoản trên giấy tờ bị cháy rụi trong hỏa hoạn thì sao? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu người quản lý tài khoản ghi sai số tiền bạn muốn chuyển từ 1000$ thành 1500$? Và nếu anh ta hay cô ta làm sai lệch con số đó một cách có chủ đích thì sẽ như thế nào?
Nhiều năm qua, chúng ta đã bỏ hết toàn bộ trứng (lòng tin, tài sản) của chúng ta vào trong một giỏ và quá nhiều vào một ai đó
Cho nên câu hỏi đặt ra là có hệ thống nào giúp chúng ta chuyển được tiền mà không cần đến ngân hàng? Để trả lời câu hỏi này, ta cần đào sâu hơn bằng một câu hỏi tốt hơn. Bây giờ bỏ ra vài phút để suy nghĩ về bản chất thực sự của chuyển khoản là gì? Thực ra nó chỉ là một dòng ghi chú dữ liệu trong sổ sách hoặc bộ nhớ máy tính. Cho nên câu hỏi tốt hơn để giải quyết vấn đề là
Có cách nào chúng ta kiểm soát và bảo toàn được dòng ghi chú dữ liệu đó giữa hai bên thay vì để cho người thứ ba làm điều đó thay chúng ta?
Blockchain chính là đáp án cho câu hỏi này. Nó sẽ giúp chúng ta kiểm soát và bảo toàn các giao dịch giữa hai bên mà không cần người thứ ba thay ta làm việc đó. Blockchain xử lý chuyện này như thế nào?
Yêu cầu cho phương pháp này chính là có đủ số người đồng ý với việc không phụ thuộc vào bên thứ ba. Số lượng người cần thiết tối thiểu là ba, rồi nhóm người này sẽ tự vận hành và quản lý giao dịch của họ.
If enough people think the same way, that becomes a self-fulfilling prophecy (Tạm dịch: nếu đủ người nghĩ cùng một cách, đó chính là một lời tiên tri mà bản thân nó đã tự hoàn thành.) - Shatoshi Nakamoto - 2009
Bây giờ ví dụ một nhóm 10 người đồng ý tham gia, mỗi người đều biết chi tiết về tài khoản của từng người trong nhóm nhưng họ thực sự không biết nhau (mặt mũi, tiểu sử, thông tin liên lạc, v.v...) Tiếp theo là các bước tiến hành:
Một hộp đựng tài liệu rỗng: mỗi người sẽ có một hộp này, và từng người sẽ tự bỏ giấy vào đó liên tục trong quá trình ghi nhận các giao dịch. Tập hợp số lượng giấy này sẽ hợp thành các ghi chú dữ liệu để theo dõi các giao dịch.
Khi một giao dịch xảy ra. Mỗi người trong mạng lưới này sẽ có một tờ giấy trắng và cây bút để ghi lại giao dịch đó. Ví dụ: người số 2 nói muốn chuyển 10$ cho người số 9 (đây là một giao dịch phát sinh) anh ta sẽ nói lớn "tôi muốn chuyển 10$ cho người số 9, mọi người hãy ghi lại giao dịch này". Khi đó tự mỗi người trong nhóm sẽ kiểm tra số tiền người số 2 đang có, nếu đủ tiền để chuyển, mỗi người sẽ tự ghi vào tờ giấy mình đang cầm trên tay giao dịch này. Lúc này giao dịch được coi là hoàn thành.
Khi các giao dịch tiếp tục diễn ra. Theo thời gian, số người tham gia vào mạng lưới này nhiều hơn. Các giao dịch vẫn sẽ được ghi nhận lại theo cách trên và tờ giấy để ghi giao dịch ban đầu đã hết chỗ. Đó chính là lúc bỏ tờ giấy này vào hộp đựng tài liệu và lấy ra tờ giấy mới để tiếp tục ghi lại các giao dịch.
Cách thức bỏ tờ giấy đã dùng rồi vào hộp đựng tài liệu. Tờ giấy đó phải được niêm phong lại trước khi bỏ vào hộp. Con dấu niêm phong đó là độc nhất được tạo ra dưới sự đồng ý của tất cả mọi người trong mạng lưới. Bằng cách niêm phong này, chúng ta có thể chắc rằng không ai có thể sửa đổi nội dung trên mỗi bản sao của tờ giấy đó khi chúng được bỏ vào hộp đựng tài liệu của từng người. Một khi chúng được đưa vào hộp rồi, thì chúng luôn ở đó mãi mãi và đã được niêm phong. Và trên hết là khi tất cả mọi người tin vào dấu niêm phong, họ cũng tin vào nội dung ghi trên mỗi tờ giấy. Cho nên con dấu niêm phong chính là điểm then chốt của phương pháp này.
27 tháng 4, 2021
Lý do tôi viết bài này là vì tôi không ưa thích trào lưu, xu hướng mới nổi hay thịnh hành. Có nhiều lý do để mọi người ca tụng tiền điện tử, thường là để dẫn dắt đám đông và trục lợi cho cá nhân, cho nên trước khi trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề trên, đây là cách hiểu của tôi về thanh toán trong thế giới hiện tại, chúng ta có thể có hai phương thức.
Thanh toán thông thường, chuyển khoản sử dụng ngân hàng. Trong phương thức này ngân hàng là bên thứ ba.
Thanh toán bằng các loại tiền ảo sử dụng công nghệ blockchain, sử dụng các platform gọi là e-wallet (ví điện tử). Trong phương thức này, công ty tạo ra e-wallet là bên thứ ba hoặc công ty tạo ra đồng tiền điện tử là bên thứ ba.
Nếu bạn sử dụng phương thức thanh toán cổ xưa, kiểu hàng đổi hàng, bạn sẽ không cần bên thứ ba. Hai bên sẽ trao đổi trực tiếp với nhau, tự thỏa thuận và đồng ý đổi bao nhiêu sản phẩm A để lấy sản phẩm B. Giao dịch sẽ luôn minh bạch và chỉ xảy ra khi có sự đồng ý của đôi bên. Điểm bất tiện là bạn sẽ phải tự vận chuyển số hàng hóa, sản phẩm đó về nhà, và không có đủ kho chứa dự trữ cho tất cả các sản phẩm bạn muốn sử dụng vì không phải lúc nào cũng cần sử dụng hết những thứ mình đang có. Do vậy loài người đã kiếm những thứ khác làm vật trung gian, nhỏ gọn hơn cho việc trao đổi, như vàng và sau này là tiền giấy. Nhưng một tờ giấy lộn hoặc cục đá màu mè hay một cục kim loại như vàng, bạc, đồng, chì, kẽm về bản chất không có một chút giá trị gì, vì vậy phải cần một bên thứ ba đứng ra có đầy đủ uy tín, sự tin tưởng của số đông loài người đứng ra đảm bảo giá trị trao đổi tương ứng của một cục đá, một thanh kim loại hay một tờ tiền giấy. Như vậy mọi người trong xã hội đã yên tâm dùng gạch đá, giấy lộn để trao đổi lấy một món hàng có giá trị tương ứng, giá trị của bất kỳ vật trung gian nào về bản chất đều phụ thuộc vào niềm tin của con người. Cho nên chúng ta hay có câu “sống bằng niềm tin” để nói về cuộc sống của một ai đó.
Bên thứ ba còn đóng vai trò chứng thực cho một vật trao đổi trung gian, cho nên chúng ta mới có phân biệt tiền thật tiền giả. Thật ra về bản chất hai thứ đó cũng chỉ là giấy lộn, điểm khác nhau là một cái được bên thứ ba đảm bảo và một cái thì không. Cho nên bên thứ ba mới chính là nhân tố chủ chốt quyết định giá trị của một vật vô tri vô giác.
Thuở xa xưa, bên thứ ba là những người có đạo đức tốt được mọi người tin tưởng, tín nhiệm, thường là già làng hoặc một cá nhân ưu tú được mọi người bầu chọn làm vua, hoặc nhà lãnh đạo. Cho nên khi một người đồng ý đứng ra đảm bảo giá trị cho một vật trung gian, nghĩa là họ lấy chính giá trị cá nhân của mình ra quy đổi thành giá trị của vật đó. Nếu có sai sót hay bất cứ thiệt hại nào xảy ra đối với những người tin tưởng họ thì uy tín, danh dự, cuộc sống của người đó sẽ hoàn toàn sụp đổ. Nói chung sẽ bị cộng đồng quay lưng và hắt hủi. Cho nên họ phải sử dụng toàn bộ năng lượng và thời gian của mình để đảm bảo rằng vật trung gian mà hỏ bảo chứng luôn có giá trị. Bạn sẽ không thể nào đủ thời gian và năng lượng để làm việc riêng của mình và phục vụ cộng đồng giải quyết các tranh chấp khiếu nại liên quan đến các vật thanh toán trung gian. Đó là một công việc nặng nhọc, và nhiều rủi ro, nó đòi hỏi một người phải hoạt động toàn thời gian. Và để bù đắp cho các mất mát, rủi ro của người đó, mọi người trong xã hội sẽ đồng ý trích một phần sản phẩm của mình để nuôi bên thứ ba, giúp người đó đủ điều kiện để tái tạo năng lượng tiếp tục vai trò bảo đảm cho vật thanh toán trung gian. Trong thời hiện đại, các cá nhân uy tín được thay bằng các ngân hàng mà đầu não là ngân hàng nhà nước hay ngân hàng trung ương. Về bản chất vai trò không thay đổi mà chỉ lớn hơn về mặt quy mô so với thời sơ khai, thay vì một người làm bây giờ chúng ta có một tổ chức gồm nhiều người.
Tự bản thân tiền điện tử vốn không có giá trị, cho nên từ ban đầu sẽ phải có một người nào đó bỏ ra một lượng tiền giấy mà cụ thể là USD, để xây dựng giá trị cho đống dữ liệu điện tử đó để lôi kéo nhiều người tham gia, và giá trị của nó sẽ tăng khi lòng tin của những người tham gia tăng, người ta sẽ bỏ nhiều USD để đổi lấy một đồng tiền điện tử. Đối với tiền điện tử thì bên thứ ba không còn là ngân hàng mà là các công ty tạo ra một đồng tiền điện tử nào đó, các công ty tạo ra e-wallet hoặc platform trao đổi. Đương nhiên bạn vẫn không thể an tâm mà giao tài sản của mình cho một ai đó bạn không tin tưởng. Cho nên các công ty chế ra e-wallet hay platform trao đổi tiền điện tử vẫn phải đăng ký kinh doanh và phải có chứng nhận của nước sở tại hoặc một tổ chức quốc tế uy tín nào đó. Suy ra, họ cũng vẫn sẽ là bên thứ ba và vai trò của họ là thay thế một trong nhiều chức năng chính của ngân hàng. Họ không loại bỏ bên thứ ba, bởi vì họ chính là bên thứ ba, cái mà họ loại bỏ là một trong những bên được coi là thứ ba.
Bạn có biết rằng để sử dụng các loại tiền điện tử thì bạn vẫn phải cần sử dụng các thiết bị điện tử như máy tính, máy tính bảng, điện thoại, v.v... Bạn có biết rằng để tạo ra một đồng tiền điện tử cũng phải tiêu hao nhiều năng lượng điện, để hệ thống máy tính chạy các giải thuật sinh ra đồng tiền đó. Về cơ bản để tạo ra, duy trì và sử dụng đồng tiền điện tử bạn phải sử dụng điện. Điện không tự nhiên sinh ra, bạn cần phải tốn nhiều chi phí để xây dựng và vận hành các nhà máy điện. Các platform trao đổi tiền điện tử, các e-wallet (ví điện tử), các tổ chức chế ra tiền điện tử cũng không tự nhiên mà có, chúng cũng vẫn được tạo ra bởi con người, và bản thân họ cũng cần phải thu lại bằng hoặc nhiều hơn chi phí (bao gồm cả tiền điện) mà họ đã bỏ ra để tạo ra các thứ đó.
Sau khi đã suy nghĩ về những điều nêu ra ở trên tôi có thể đi đến kết luận của riêng mình là tiền điện tử không thể loại bỏ bên trung gian thứ ba. Ứng dụng blockchain có thể có ý nghĩa nào khác nhưng khi áp dụng vào tiền điện tử và đề cao việc loại bỏ sự tham gia của một bên thứ ba vào giao dịch thanh toán là chuyện không thể. Blockchain có thể giúp đảm bảo độ chính xác của dữ liệu nhằm chống lừa đảo hoặc phá hoại từ các hacker nhưng chúng ta không nên quá đề cao vai trò của nó như một phương pháp thần kỳ cho mọi lĩnh vực. Nếu muốn loại bỏ hoàn toàn bên thứ ba, hãy quay về với phương thức trao đổi trực tiếp bằng hàng hóa, hàng đổi hàng như thời xa xưa, hãy sống tốt và đừng tham lam. Công nghệ cao cấp nhất giúp loại bỏ bên thứ ba, cuối cùng vẫn là niềm tin giữa con người.
Metaverse hiện vẫn là một từ ngữ bị các công ty công nghệ lạm dụng, nó mang tính chất thời trang, quảng cáo hơn là khía cạnh kỹ thuật nguyên gốc của nó. Meta nghĩa gốc trong tiếng Hy Lạp là sau đó hay hàm ý vượt lên trên, toàn diện hơn, vượt trội hơn hay vượt thoát khỏi. Từ meta này được dùng ghép với nhiều từ khác thường dùng trong lĩnh vực công nghệ thông tin, để chỉ một thành phần nào đó to lớn hơn cái cơ bản đã được biết đến ví dụ như “metadata” trong cơ sở dữ liệu là loại dữ liệu mô tả về các cấu trúc để chứa đựng dữ liệu trong các hệ thống quản trị dữ liệu như “table” hay “field”. Ngoài ra còn có “meta-cognition” (nhận thức về một nhận thức), “meta-emotion” (cảm xúc về một cảm xúc), “meta-discussion” (thảo luận về một cuộc thảo luận), “meta-programming” (lập trình một chương trình có thể tự lập trình). Như vậy “meta-verse” (được ghép bởi meta và universe) là nói về một vũ trụ vượt ra khỏi, hoặc rộng lớn hơn vũ trụ hiện hữu của chúng ta bây giờ, hiểu nôm na là có một vũ trụ khác to hơn chứa đựng vũ trụ mà chúng ta đang sống. Hay như trong các tiểu thuyết kiếm hiệp có câu “thiên ngoại hữu thiên, nhân ngoại hữu nhân”, là trời cao còn có trời cao hơn, người tài còn có người tài hơn ám chỉ những cảnh giới cao hơn vướt xa cảnh giới thông thường mà chúng ta đang nhận thức. Hay có thể hiểu tương tự như trong các nền văn hóa cổ có nói về ba mươi sáu tầng trời hay mười tám tầng địa ngục, hoặc như vượt thoát ra khỏi cõi người theo hướng thăng tiến là cõi thần, thánh, tiên, trời, phật hay theo hướng thoái hóa như ngạ quỷ, súc sinh, v.v… Đây là những cảnh giới hay cung cõi hoặc vũ trụ (theo cách nói hiện đại) mà con người với các chức năng và giác quan trong cấu tạo sinh học hiện tại không thể nhận biết được.
Lấy ví dụ về hạt cát và giọt nước để cho dễ hiểu ta có thể nói như thế này: giả sử một hạt cát là một vũ trụ, thì sa mạc chính là một meta-verse, hay một giọt nước là một vũ trụ thì biển cả chính là meta-verse… Hạt cát thì không thể biết đến sự tồn tại của sa mạc, nhưng sa mạc thì lại biết rất rõ từng hạt cát nó chứa đựng; tương tự như vậy giọt nước không thể biết được về biển cả nhưng biển cả biết tất cả những gì nó mang theo. Như vậy meta-verse hàm chứa ước muốn chạm đến những gì vượt ra ngoài khả năng tri giác bình thường của con người.
Còn meta-verse của Mark Zuckerberg mang trong mình tham vọng nâng cao giá trị cổ phiếu và mang lại lợi nhuận nhiều hơn cho người sáng lập và các nhà đầu tư so với khả năng sinh lợi hiện tại. Đúng ra nên gọi nó là “meta-profit” (lợi tức được cấu thành bằng cách thâu gom toàn bộ các lợi tức của người khác).
Các meta-verse đã tồn tại trước thời điểm Mark Zuckerberg đổi tên công ty của mình từ Facebook thành Meta Platforms vào năm 2019. Chúng chính là các trò chơi điện tử trực tuyến như World of Warcraft (2004), Second Life (2003), Roblox (2006), v.v… Vào thời điểm đó thì từ khóa quảng cáo không phải là “metaverse” mà là “MMORPG”. Sau thời điểm 2020, “metaverse” được dùng làm từ khóa và lối thoát cho Mark Zuckerberg tránh khỏi tai tiếng từ những vụ việc Facebook bị cáo buộc làm rò rỉ dữ liệu hàng triệu người dùng cho bên thứ ba và thông đồng với các chính phủ độc tài kiểm soát thông tin. Với quy mô cùng sức ảnh hưởng sẵn có, chiến dịch thông tin quảng cáo gắn liền với từ khóa “metaverse” đã tạo ra một trào lưu mới khiến các công ty startup công nghệ chạy theo xu hướng này với nhiều dự án mà tên tuổi của nó phải đính kèm theo chữ “metaverse”. Lúc này “metaverse” như là một câu thần chú mê hoặc các nhà đầu tư khiến họ phải móc hầu bao mà bỏ vào các dự án này vì không thể cưỡng lại nổi lòng tham của chính mình.
Nếu nhìn rộng ra thì hệ thống internet hiện giờ chúng ta đang sử dụng chính là một meta-verse. Tại sao? Bởi vì internet mở rộng khả năng liên lạc của con người. Từ khi mạng lưới internet xuất hiện, dù cách xa vạn dặm chúng ta cũng vẫn có thể nói chuyện với nhau, vẫn có thể nhìn thấy nhau thông qua các ứng dụng video call, live stream. Điều mà cách đây hơn trăm năm thoáng nghe qua tưởng như chuyện hoang đường. Ai đọc Tây Du Ký sẽ biết là trên thiên đình, có hai vị thiên tướng là Thuận Phong Nhĩ và Thiên Lý Nhãn, dù ở trên thiên giới vẫn có thể nghe được âm thanh và hình ảnh ở hạ giới. Internet là một loại vũ trụ mới tăng cường khả năng giao tiếp kết nối của con người ở khắp nơi trên thế giới. Ví dụ bạn đang sống ở một nước siêu nghèo được xếp vào hàng các quốc gia kém phát triển, thông qua internet những người ở nước siêu giàu cho bạn thấy nơi họ sống có những máy móc thiết bị tân tiến mà bạn chưa từng được thấy, họ có thể bay lượn trên không trung bằng cách đứng lên trên một tấm ván hệt như các vị thần trong truyện cổ tích trong khi bạn vẫn phải bì bõm trong dòng nước cống mỗi khi mưa lớn hay triều cường, đó chính là khả năng của một metaverse.
Cho nên việc Mark Zuckerberg tuyên bố “metaverse là tương lai của internet” là không đúng, vì internet đã chính là metaverse, nó vốn đã hiện hữu rồi thì dù có thay tên đổi họ hoặc khoác thêm trên mình các công cụ tăng cường thực tế ảo hay công nghệ mã hóa mới lạ nào đó thì nó vẫn là chính nó về bản chất không thay đổi. Chiếc áo không làm nên thầy tu, có đổi bao nhiêu áo đi nữa thì thầy tu vẫn là thầy tu.
THAM KHẢO: